Mối quan hệ gập ghềnh giữa Mỹ và Trung Quốc đã đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cho tương lai châu Á và khiến hình dạng của một trật tự quốc tế nổi dần lên.

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long nêu ra như vậy trong bài viết có tiêu đề “Thế kỷ châu Á gặp nguy: Mỹ, Trung Quốc và hiểm họa đối đầu”, đăng trên tạp chí Mỹ Foreign Policy ngày 4/6.

Chúng tôi xin dịch và đăng lại bài viết này:

Phần 1: Hai giai đoạn Pax Amerricana

Thế kỷ châu Á gặp nguy: Mỹ, Trung Quốc và hiểm họa đối đầu

Phần 2: Các lựa chọn cơ bản của Mỹ và Trung Quốc

Mỹ và Trung Quốc đều phải đối mặt với những lựa chọn cơ bản của mỗi nước.

Mỹ phải quyết định liệu có xem sự trỗi dậy của Trung Quốc như một mối đe dọa cần tìm mọi cách kìm hãm, hoặc chấp nhận Trung Quốc như một cường quốc có quyền riêng của mình hay không. Nếu chọn cách sau, Mỹ phải xây dựng cách tiếp cận với Trung Quốc theo hướng thúc đẩy hợp tác, cạnh tranh lành mạnh bất cứ khi nào có thể và không cho phép sự kình địch hủy hoại toàn bộ mối quan hệ.

Lý tưởng nhất là sự cạnh tranh này sẽ diễn ra trong một khuôn khổ gồm các quy tắc và quy chuẩn đa phương thống nhất của loại hình đang điều hành Liên Hợp Quốc và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Mỹ có thể sẽ thấy đây là một sự điều chỉnh đau đớn, đặc biệt là với việc ngày càng nhiều ý kiến ở Washington cho rằng việc lôi kéo Bắc Kinh đã thất bại, và cần phải có cách thức tiếp cận khắt khe hơn để bảo vệ các lợi ích của Mỹ.

Tuy nhiên, dù nhiệm vụ rất khó, vẫn đáng để Mỹ thực hiện một nỗ lực nghiêm túc nhằm đáp ứng nguyện vọng của Trung Quốc bên trong hệ thống các quy chuẩn và quy tắc quốc tế hiện thời. Hệ thống này sẽ áp đặt trách nhiệm và giới hạn lên tất cả các nước, củng cố niềm tin, giúp quản lý xung đột, và tạo ra một môi trường an toàn, ổn định hơn cho cả hợp tác lẫn cạnh tranh.

Nếu Mỹ chọn cách kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, nước này có nguy cơ khuấy đảo một phản ứng có thể đẩy hai nước vào tình thế dẫn tới sự đối đầu trong suốt nhiều thập niên.

Mỹ không phải là một cường quốc đang đi xuống. Nước này có những khả năng hồi phục và sức mạnh tuyệt vời, một trong số đó là khả năng thu hút nhân tài từ khắp nơi trên thế giới. Trong số 9 người Trung Quốc được giải Nobel về khoa học thì 8 người là công dân Mỹ hoặc sau đó trở thành công dân Mỹ.

Mặt khác, dù nền kinh tế Trung Quốc có sức năng động to lớn cùng công nghệ ngày càng tân tiến, song còn lâu nó mới trở thành một ngôi làng trình diễn (Potemkin) hoặc một nền kinh tế chỉ huy toàn diện đã định hình Liên Xô trong những năm cuối cùng. Bất kỳ cuộc đối đầu nào giữa hai cường quốc đều khó có thể chấm dứt như kiểu Chiến tranh Lạnh.

Về phần mình, Trung Quốc phải quyết định xem có nên cố gắng trở thành một cường quốc lớn không chịu tác động hay không, chiếm ưu thế nhờ quy mô và sức mạnh kinh tế của mình nhưng có nguy cơ bị đẩy lùi mạnh mẽ, không chỉ từ Mỹ mà từ các nước khác nữa.

Cách tiếp cận này nhiều khả năng sẽ gây căng thẳng và bực bội, rốt cuộc sẽ tác động đến vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc về lâu dài. Một cuộc khảo sát gần đây của Trung tâm Nghiên cứu Pew cho thấy, người dân ở Canada, Mỹ cùng nhiều nước châu Á và Tây Âu có quan điểm ngày càng bất lợi về Trung Quốc. Bất chấp việc Bắc Kinh gần đây nỗ lực xây dựng quyền lực mềm ở nước ngoài – chẳng hạn thông qua mạng lưới các viện Khổng tử và thông qua các tờ báo, đài truyền hình quốc tế – xu hướng này là tiêu cực.

Ngoài ra, Trung Quốc có thể thừa nhận không còn nghèo và yếu nữa, chấp nhận thế giới giờ đây đang đặt ra những kỳ vọng cao hơn về mình. Trung Quốc không còn có thể hưởng những nhượng bộ và đặc quyền như khi còn là nước ít phát triển hơn, chẳng hạn các điều khoản hào phóng mà theo đó nước này gia nhập WTO năm 2001.

Một Trung Quốc mạnh mẽ hơn không chỉ phải tôn trọng các quy tắc và quy chuẩn toàn cầu mà còn phải đảm đương trách nhiệm lớn hơn cho việc duy trì và cập nhật trật tự quốc tế, mà theo đó họ đã phát triển vô cùng ngoạn mục. Khi các quy tắc và quy chuẩn hiện thời không còn phù hợp với mục đích thì Trung Quốc nên hợp tác với Mỹ và các nước khác để đưa ra các thỏa thuận sửa đổi để tất cả có thể cùng chung sống.

Con đường tạo ra một trật tự mới không đơn giản. Sức ép trong nước thúc đẩy và kiềm chế các lựa chọn chính sách đối ngoại của cả hai nước. Chính sách đối ngoại ít được đề cao trong chiến dịch tranh cử tổng thống hiện nay ở Mỹ, nếu có thì trọng tâm phổ biến là các biến thể của chủ đề “Nước Mỹ trước tiên”.

Ở Trung Quốc, ưu tiên nổi trội là duy trì ổn định chính trị nội bộ và sau khi trải qua hai thế kỷ yếu kém, phải thể hiện sự tự tin vào một nền văn minh cổ đại đang trỗi dậy trở lại. Vì vậy, không thể chấp nhận Mỹ và Trung Quốc sẽ quản lý các mối quan hệ song phương dựa trên tính toán hợp lý về các lợi ích quốc gia hoặc chia sẻ khát vọng về các kết quả đôi bên cùng có lợi.

Hai nước này không nhất thiết phải dấn thân vào một tiến trình đối đầu, nhưng đối đầu là không thể loại trừ.

Động lực ở châu Á – Thái Bình Dương

Những động lực diễn ra trên khắp thế giới, nhưng đấu trường quan trọng sẽ là châu Á – Thái Bình Dương.

Mỹ luôn có những lợi ích quốc gia sống còn trong khu vực này. Họ đã phải dùng đến máu và tài sản trong cuộc chiến Thái Bình Dương để hạ gục Nhật, một cuộc chiến mà Mỹ gần như mất 3 tổng thống tương lai. Nước này đã đấu hai cuộc chiến tốn kém ở Triều Tiên và Việt Nam, giúp nhiều nước khác có thời gian quý báu để củng cố xã hội và kinh tế.

Các chính sách cởi mở của Mỹ đã mang lại lợi ích rất lớn cho châu Á – Thái Bình Dương, bắt nguồn từ những ý tưởng chính trị sâu sắc và hình ảnh kiểu như “thành phố trên đỉnh đồi”, nhưng chúng cũng phản ánh quyền lợi tự thân được giải phóng. Đối với các doanh nghiệp Mỹ, châu Á – Thái Bình Dương cung cấp các thị trường lớn và các cơ sở sản xuất quan trọng. Không hề ngạc nhiên khi nhiều đồng minh trung thành nhất của Mỹ nằm ở châu Á, chẳng hạn như Nhật Bản, Hàn Quốc. Một số đối tác lâu năm của Mỹ cũng vậy, chẳng hạn như Singapore.

Trung Quốc cũng có các lợi ích sống còn trong khu vực.

Ở Đông Bắc Á, chiến tranh Trung – Nhật lần 2 và Chiến tranh Triều Tiên vẫn còn phủ bóng. Ở Đông Nam Á, Trung Quốc thấy một nguồn năng lượng và các nguyên vật liệu thô, các đối tác kinh tế, và cả những tuyến giao thông trên biển quan trọng. Nước này cũng thấy các vị trí án ngữ ở Eo biển Malacca và Biển Đông mà phải được duy trì mở để bảo vệ an ninh năng lượng của Trung Quốc. Nhưng khác với Mỹ, Trung Quốc xem châu Á – Thái Bình Dương như “cận ngoài” của mình để mượn sự thể hiện của Nga, do đó rất cần thiết cho an ninh của nước này.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nói rằng Thái Bình Dương đủ lớn để chứa Mỹ và Trung Quốc. Nhưng, ông cũng nói an ninh châu Á nên để người châu Á lo. Một câu hỏi tự nhiên được đặt ra: Ông Tập nghĩ Thái Bình Dương đủ lớn cho Mỹ và Trung Quốc cùng tồn tại hòa bình với những vòng tròn đan xen của bạn bè và đối tác? Hay là đủ lớn để phân chia giữa hai cường quốc, thành các khu vực cạnh tranh ảnh hưởng?

Singapore và các nước châu Á – Thái Bình Dương khác biết rõ mình muốn cách diễn giải nào. Mặc dù họ có thể không có nhiều ảnh hưởng đến mọi thứ sẽ diễn ra, nhưng họ hy vọng sẽ không buộc phải lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc.

Sự hiện diện an ninh của Mỹ vẫn rất quan trọng đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Nếu không có sự hiện diện đó, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ buộc phải dự tính phát triển vũ khí nguyên tử vì cả hai đều là những nước ở ngưỡng hạt nhân và chủ đề này thường xuyên xuất hiện trong những diễn ngôn công khai của họ, đặc biệt là trước năng lực vũ khí hạt nhân ngày càng lớn của Triều Tiên. Thật may là những diễn biến này vẫn chỉ là giả thuyết, nhưng các triển vọng của chúng thực sự không có lợi cho sự ổn định ở Đông Bắc Á, cũng như cho các nỗ lực không phổ biến hạt nhân trên toàn cầu.

Ở Đông Nam Á, Hạm đội 7 của Mỹ đã đóng góp cho an ninh khu vực kể từ Thế chiến 2, đảm bảo các tuyến giao thông đường biển vẫn an toàn và mở rộng, từ đó cho phép thương mại và kích thích tăng trưởng kinh tế.

Dù có sức mạnh quân sự gia tăng, Trung Quốc sẽ vẫn chưa thể đảm nhận vai trò an ninh của Mỹ. Không giống như Mỹ, Trung Quốc có tranh chấp cả về lãnh thổ lẫn lãnh hải ở Biển Đông với nhiều nước trong khu vực, và những nước này sẽ coi sự hiện diện của hải quân Trung Quốc là nỗ lực thúc đẩy những yêu sách đó. 

Tất nhiên, Singapore và tất cả các nước châu Á khác đều muốn xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc. Họ hy vọng được tận hưởng thiện chí và sự ủng hộ của một cường quốc lớn, và tham gia vào sự phát triển của nó. Các chuỗi cung ứng toàn cầu – dù là máy bay, điện thoại di động hay khẩu trang phẫu thuật – đều kết nối Trung Quốc với các quốc gia châu Á khác một cách chặt chẽ. Quy mô của Trung Quốc đã biến nước này thành đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các nước châu Á khác, kể cả các đồng minh của Mỹ trong khu vực, cũng như Singapore và gần như mọi thành viên ASEAN.

Sẽ rất khó – gần như không thể – để Mỹ thay thế Trung Quốc như một nguồn cung cấp chính của thế giới, và cũng ngoài sức tưởng tượng nếu để Mỹ tự làm mà không có thị trường Trung Quốc, vốn là nước nhập khẩu hàng hóa Mỹ lớn thứ 3 sau Canada và Mexico. Ngược lại, Trung Quốc cũng không thể nào thay thế vai trò kinh tế của Mỹ ở châu Á. Hệ thống tài chính toàn cầu phụ thuộc nhiều vào các tổ chức tài chính Mỹ, và đồng Nhân dân tệ chưa thể sớm thế chỗ đồng USD ở vị trí đồng tiền dự trữ của thế giới.

Và tuy các nước châu Á xuất khẩu tới Trung Quốc nhiều hơn sang Mỹ, các tập đoàn đa quốc gia của Mỹ vẫn tạo thành nguồn đầu tư nước ngoài lớn nhất ở nhiều quốc gia châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Singapore.

Các công ty lớn của Trung Quốc đang nỗ lực đầu tư ra bên ngoài, nhưng sẽ mất nhiều năm nữa nước này mới có thể có các tập đoàn đa quốc gia có quy mô tương tự như các tập đoàn của Mỹ, liên kết các chuỗi sản xuất toàn cầu với nhau, kết nối châu Á với nền kinh tế thế giới và tạo ra hàng triệu việc làm.

Với những lý do đó, các nước châu Á – Thái Bình Dương không muốn bị buộc phải lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc. Họ muốn vun đắp mối quan hệ tốt đẹp với cả hai. Họ không thể xa lánh Trung Quốc, và các nước châu Á khác sẽ cố hết sức không để bất kỳ tranh chấp đơn lẻ nào chi phối mối quan hệ tổng thể của mình với Bắc Kinh.

Cùng lúc đó, những nước châu Á đó vẫn coi Mỹ là cường quốc thường trú với các lợi ích sống còn trong khu vực. Họ ủng hộ khi Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố Mỹ có ý định “tái cân bằng” chính sách đối ngoại hướng tới châu Á. Họ an ủi rằng dẫu đặt ra vấn đề chia sẻ chi phí và gánh nặng với các nước bạn bè và đồng minh, chính quyền Trump vẫn thúc đẩy một chiến lược cho khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương và công bố ý định xây dựng Bộ Chỉ huy Ấn Độ – Thái Bình Dương của quân đội Mỹ.

Những nước châu Á đó cũng công nhận Mỹ là một siêu cường toàn cầu, với những mối bận tâm sâu rộng và những ưu tiên cấp bách trên khắp hành tinh. Họ biết rõ nếu căng thẳng tăng cao, hoặc thậm chí xấu đi, thì xung đột xảy ra, họ không thể tự động nhận sự hỗ trợ của Mỹ. 

Họ muốn làm phần việc của mình để bảo vệ các lợi ích và đất nước. Họ cũng hy vọng Mỹ hiểu rằng, nếu các nước châu Á khác thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc thì điều đó không có nghĩa là họ đang hành động chống lại Mỹ. (Và tất nhiên, các nước châu Á cũng hy vọng một sự hiểu biết tương tự từ phía Trung Quốc, nếu họ thắt chặt quan hệ với Mỹ).

(Còn tiếp)

Thanh Hảo